SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC Ở NEW ZEALAND


Đã có nhiều bạn chọn con đường đi học để biến ước mơ được định cư tại New Zealand thành hiện thực.
Trước khi du học, thì điều đương nhiên là phải tìm hiểu về hệ thống giáo dục của New Zealand rồi.

I. CÁC BẰNG CẤP VÀ CẤP BẬC TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC
1.CẤP BẬC (LEVEL) VÀ HỆ THỐNG VĂN BẰNG (QUALIFICATION)
Hệ thống giáo dục của New Zealand được chia thành 10 cấp bậc (level) từ 1 đến 10. Level 1 là thấp nhất và level 10 là cao nhất. Mỗi level sẽ có những yêu cầu khác nhau về kiến thức (knowledge) và kỹ năng (skill).
Level càng cao thì kỹ năng càng cao và càng nghiêng về học thuật và nghiên cứu nhiều hơn.
Tuỳ theo mức độ (level) của chương trình học mà các bạn sẽ được cấp các loại bằng cấp khác nhau. Nền giáo dục của New Zealand có 3 loại văn bằng chính gồm:
- Certificated (tương đương Trung Cấp ở Việt Nam).
- Diploma (tương đương Cao Đẳng ở Việt Nam).
- Degree (tương đương Đại Học ở Việt Nam).
Chú ý: Các tên gọi bằng cấp chỉ có ý nghĩa tương đương tượng trưng chứ không chính xác 100% như hệ thống văn bằng của Việt Nam.



Hình minh hoạ sau cũng cho các bạn thấy mối liên hệ giữa bằng cấp và cấp bậc học. Như đã đề cập ở trên, tên gọi các văn bằng cũng chỉ mang tính chất tương đối. Thí dụ như Graduate Certificate, Graduate Diploma có cùng level 7 tức là tương đương với Bachelor. Do đó các bạn đừng qui đổi tên gọi các văn bằng này ra tiếng Việt một cách máy móc mà hãy xem văn bằng đó ở level mấy. Nên nhớ là level càng cao thì kiến thức và trình độ càng cao.



Muốn có Bachelor thì các bạn phải học ít nhất 3 năm. Nhưng để có Graduate Diploma, các bạn nhiều khi chỉ cần học 1 năm. Lý do vì sao? Những chương trình này dành cho những người đã có kinh nghiệm đi làm hoặc đã có bằng cấp khác và muốn học thêm. Đó là lý do tại sao hệ thống văn bằng của New Zealand lại có nhiều tên gọi như thế.
Mỗi văn bằng sẽ có yêu cầu đầu vào và thời lượng học khác nhau cho dù ở cùng một level.
Câu hỏi ngắn gọn hơn là tương ứng với mỗi level học, khi ra trường các bạn sẽ làm được gì? Hình minh hoạ sau sẽ cho các bạn khái niệm nghề nghiệp dựa trên các level.


2. CÁCH TÍNH CREDIT
Theo như bảng liệt kê trên, muốn tốt nghiệp hoặc hoàn tất 1 văn bằng, các bạn phải đáp ứng được số credit tối thiểu ở mỗi level khác nhau. Vậy credit là gì và cách tính credit ra sao??
Để hiểu được credit là gì, các bạn hãy làm quen với các khái niệm như sau:

HỌC KỲ (SEMESTER): Các trường (ở đây gọi chung các Universities, Polytech, Insittude, v.v là trường cho ngắn gọn) khai giảng năm học mới vào khoảng đầu tháng 2. Lý do vì sao đầu tháng 2? New Zealand nằm ở cực Nam, dưới đường xích đạo nên thời tiết sẽ ngược với các nước ở cực Bắc trên đường xích đạo. Tháng 2 là hết mùa Hè nên các trường sẽ khai giảng năm học mới. Mỗi năm sẽ có 2 đợt khai giảng:
- Đợt 1: Tháng 2 hàng năm. Là đợt khai giảng chính.
- Đợt 2: Tháng 7 hàng năm. Là đợt khai giảng phụ sau khi kỳ nghỉ ngắn khoảng 2-4 tuần.
Do đó các trường cũng sẽ có 2 học kỳ (semester) chính:
- Semester 1 (học kỳ 1): Bắt đầu từ tháng 2 đến hết tháng 6. Semester kết thúc bằng kỳ thi cuối khoá (final exam) và 1 kỳ nghỉ ngắn (short term break).
- Semester 2 (học kỳ 2): Bắt đầu từ tháng 7 đến cuối tháng 11. Semester kết thúc cũng bằng kỳ thi cuối khoá (final exam) và sinh viên bắt dầu nghỉ hè (summer break).
Giữa mỗi semester sẽ có 1 kỳ nghỉ ngắn 1-2 tuần gọi là semester break.
Một số trường sẽ mở ra summer school dành cho một số sinh viên muốn tiết kiệm thời gian, tranh thủ thời gian hè (tháng 12 đến tháng 2 năm sau) có thể đăng ký học một vài môn để rút ngắn thời gian học.
Như vậy mỗi semester khoảng 16 tuần, trừ đi 2 tuần break còn 14 tuần học chính thức (và thi).
MÔN HỌC (PAPER): Các trường bên New Zealand gọi môn học là paper. Mỗi một semester sinh viên học 4 papers trong 16 tuần. Mỗi paper có khoảng 4 tiếng học trên giảng đường (lecture)/tuần. Trung bình 1 tuần sinh viên lên lớp khoảng 16 tiếng. Thời gian còn lại là tự học ở thư viện, học nhóm, v.v.
Một năm học thì mỗi sinh viên phải hoàn thành trung bình 8 papers (có thể nhiều hơn nếu học thêm summer). Thông thường các trường sẽ tính mỗi papers là 15 credits (hay points tuỳ theo cách gọi của mỗi trường). Cá biệt có môn số credit (point) sẽ cao hơn 15.
Các paper này có thể là từ level 3 đến level 8 hoặc 9 tuỳ theo độ khó.
CÁCH TÍNH CREDIT (POINT): Theo như quy định của Cơ Quan Quản Lý về Giáo Dục của New Zealand, thì để tốt nghiệp các bạn phải đạt đủ credit thì mới được công nhận. Vì mỗi paper là 15 credits nên các bạn cứ thế mà nhân lên cho đủ số credit theo yêu cầu (có môn credit cao hơn thì học ít môn hơn). Đơn giản nhất là theo công thức:
Văn bằng tốt nghiệp (số credit) = paper x số credit của paper đó

Thí dụ như Diploma level 5 chẳng hạn, yêu cầu phải là 120 credits của các papers ở level 4 và tối thiểu 72 credits của các paper ở level 5. Do đó các bạn cần học như sau:
- 120 credits = 15 credits x 8 papers ở level 4
- 75 credits = (15 credits x 3 papers ở level 5) + (30 credits x 1 papers)
Theo cách tính trên, thì Diploma level 5 các bạn cần học ít nhất 2 năm. Lý do tại sao 2 năm? Đơn giản thế này:
- Năm 1: 8 papers của level 4.
- Năm 2 – sememester 1: 3 papers ở level 5.
- Năm 2 – semester 2: 1 paper (thông thường là project 30 credits).

Với cách tính trên, các bạn có thể hình dung ra thời gian và khối lượng paper. Khi nghe các trung tâm quảng cáo, các bạn hình dung ra ngay là với bằng cấp như thế, thời gian học cần tối thiểu bao lâu và học bao nhiêu môn (papers). Nếu số lượng thời gian và môn học không đúng thì nên kiểm tra lại ngay để tránh mọi sự hiểu nhầm đáng tiếc.

3. SƠ LƯỢC HỆ THỐNG TRƯỜNG PHỔ THÔNG CỦA NEW ZEALAND
Du học New Zealand không chỉ có bậc đại học (tertiary) mà còn có bậc phổ thông trung học nữa. Đã và đang có rất nhiều quí vị phụ huynh cho con đi du học New Zealand ở bậc phổ thông. Đây là một sự lựa chọn đúng nếu gia đình có điều kiện. Vì sao? Du học từ phổ thông có những điều lợi sau:
- Dễ xin visa.
- Không cần bằng cấp tiếng Anh.
- Con cái tiếp thu ngôn ngữ và hoà nhập với cuộc sống nhanh. Tạo tiền đề thuận lợi cho việc học cao hơn sau này.
- Bằng cấp được công nhận ở nhiều quốc gia khác nếu có ý định chuyển trường.
Phần này chỉ giới thiệu sơ lược hệ thống trường phổ thông (schools) dưới bậc đại học của New Zealand.

3.1 GIÁO DỤC LÀ BẮT BUỘC VÀ MIỄN PHÍ
Ở New Zealand, mọi trẻ em đều phải bắt buộc đến trường ở độ tuổi lên 5 hoặc 6 và phải đi học mỗi ngày.
Giáo dục phổ thông của New Zealand kéo dài 13 năm (chứ không phải là 12 năm như Việt Nam) và được chia ra thành 2 cấp:
- Primary/Intermediate school: Khi trẻ em bắt đầu đi học (5-6 tuổi) thì gọi là Year 1. Primary school bao gồm từ Year 1 đến 6. Intermediate school bao gồm year 7 và 8.
- Secondary school (hay còn gọi là college hay high school): Bắt đầu từ Year 9 đến 13.
Học sinh có thể ngưng học trước khi kết thúc Year 13 nhưng không được trước năm 16 tuổi. Có nghĩa là chưa đủ 16 tuổi thì bắt buộc phải đi học. Đủ 16 tuổi thì có thể ra đi làm nếu không thích học nữa. Nếu tính Year 1 từ năm 6 tuổi, đến năm 16 tuổi là 10 năm giáo dục bắt buộc. Không học không được.

3.2 CÁC LOẠI TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Trường phổ thông của New Zealand được chia thành 3 loại (chia theo chủ sở hữu) như sau:

STATE SCHOOLS HAY PUBLIC SCHOOLS (TRƯỜNG CÔNG)
Các trường này thuộc chính phủ và nhận tài trợ từ chính phủ. Hầu hết trẻ em (hơn 90%) đều học trường công vì giáo dục là miễn phí. New Zealand quy định học phí các trường công này là free hoàn toàn cho học sinh bản xứ cho đến 19 tuổi. Tất nhiên miễn phí chỉ là lý thuyết, thực tế thì phụ huynh vẫn phải đóng một số tiền linh tinh như quỹ này quỹ nọ, đồng phục, lệ phí thi, tiền cắm trại, tiền tham gia thể thao, ngoại khoá, v.v.

Để bảo đảm tính công bằng, chương trình học của New Zealand dựa trên Core Education Curriculum. Nếu các hoạt động ngoại khoá, thể thao thuộc Core này thì mọi học sinh đều được tham gia cho dù có đóng tiền hay không. Còn ngược lại nếu các hoạt động này không thuộc Core này thì học sinh không đóng tiền sẽ không được tham gia.
Ngoài học sinh bản xứ ra, hệ thống trường công này chấp nhận các học sinh sau đây vào học miễn phí y chang như đối với học sinh bản xứ:
- Nếu học sinh có New Zealand resident visa hay citizen (bao gồm cả các quốc gia như Tokelauans, Cook Islanders and Niueans).
- Nếu học sinh giữ student visa “ăn theo” work visa của phụ huynh.
Ngoài ra, các học sinh khác được xem như là International Student và đóng học phí “khủng” (khoảng $15K/năm).

STATE INTERGRATED SCHOOLS (DỊCH TẠM LÀ TRƯỜNG BÁN CÔNG)
Có khoảng 10% học sinh theo học các trường này. Đa phần các trường này trực thuộc các tổ chức tôn giáo (đa phần là nhà thờ). Trường bán công này vẫn nhận sự hỗ trợ của chính phủ nhưng sẽ không miễn phí cho học sinh như trường công. Học sinh phải đóng một khoản tiền nhằm giúp trường duy trì hoạt động. Thông thường là vào khoảng $1,500/năm (với học sinh bản xứ).

PRIVATE SCHOOLS (TRƯỜNG TƯ)
Có khoảng dưới 5% học sinh có điều kiện học trường tư. Vì trường tư nên học phí rất đắt. Cho dù là học sinh bản xứ thì cũng phải đóng học phí với giá khủng là $20,000/năm (International có thể cao hơn). Một số trường tư chỉ nhận học sinh nam hoặc nữ. Có một số trường nhận cả nam lẫn nữ.
Vì trường tư nên cơ sở vật chất là tuyệt hảo. Đa phần họ có luôn ký túc xá cho học sinh ở lại nội trú. Đã bước chân vào trường tư thì bảo đảm không muốn cho con học trường công khác. Nhiều trường tư có thí dụ ở Christchurch có lối kiến trúc như các lâu đài Trung Cổ hay như film Harry Potter.

3.3 LỊCH HỌC CỦA CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Trước tiên nói về giờ học, bắt đầu từ 09:00 am đến khoảng 3:00 pm. Sau đó học sinh về nhà, không có cảnh học thêm đến tối như ở Việt Nam. Bên New Zealand có những tiệm chơi game họ qui định luôn là mặc đồng phục học sinh thì không cho vào. Để tránh học sinh la cà sau giờ học.
Lịch khai giảng chính là vào tháng 2 (nên nhớ New Zealand mùa Hè là tháng từ tháng 11 đến khoảng tháng 1). Một năm sẽ có 4 terms (học kỳ), giữa các term sẽ là kỳ nghỉ 2 tuần. Nghỉ hè kéo dài 6 tuần.
Thông thường 4 terms sẽ có lịch như sau:
- Term 1: Cuối tháng 1 cho đến đầu tháng 4 (sau đó nghỉ 2 tuần).
- Term 2: Tháng 5 cho đến đầu tháng 7 (sau đó nghỉ 2 tuần).
- Term 3: Cuối tháng 7 cho đến cuối tháng 9 (sau đó nghỉ 2 tuần).
- Term 4: Giữa tháng 10 đến giữa tháng 12 (sau đó nghỉ Hè 6 tuần).
Lịch học chính xác thì tuỳ theo từng trường.
Ở New Zealand, thông thường thì trẻ em sẽ bắt đầu đi học khi tròn 5 tuổi. Có nhiều phụ huynh chưa muốn cho con nhập học sớm thì có thể đợi đến năm trẻ 6 tuổi nhưng đủ 6 tuổi thì bắt buộc phải đi học.
Trẻ em lần đầu tiên đến trường gọi là “tân binh” (new entrants). Chắc nhiều bạn cũng còn nhớ bài hát Ngày Đầu Tiên Đi Học chứ? “Mẹ dắt tay đến trường, em vừa đi vừa khóc”.
Một số trường thoải mái với lịch học nên cho phép trẻ nhập học bất kỳ thời gian nào trong năm tuỳ theo phụ huynh. Một số trường khác lại sử dụng hệ thống gọi là “cohort entry”, nghĩa là trẻ em nhập học theo từng nhóm vào đầu mỗi school term.
Khi đăng ký cho con học, các bậc phụ huynh nên để ý xem trường mình chọn họ sử dụng hệ thống nào. Đối với những bạn mang con cái sang New Zealand theo gia đình và đã đi học trước đó thì có thể nhập học bất cứ lúc nào trong năm.

3.4 ĐĂNG KÝ HỌC RA SAO?
Để đăng ký cho học sinh theo học, phụ huynh nên liên hệ trực tiếp với trường. Các trường phổ thông của New Zealand hầu hết nhận du học sinh nên họ sẽ có bộ phận International Student.
Một số học sinh đã từng học ở Việt Nam, khi đến New Zealand thì sẽ được xếp lớp ra sao? Nhà trường sẽ xếp lớp cho trẻ dựa trên độ tuổi, để các học sinh học chung với nhau sẽ có độ tuổi ngang nhau. Thí dụ, các bạn sang New Zealand học hoặc làm việc và có con 10 tuổi đi kèm, thì con của các bạn sẽ được xếp vào Year 5 hoặc Year 6 cùng với các học sinh 10 tuổi khác.

3.5 NEW ZEALAND CURRICULUM
Ở trên có nói qua Core Education Curriculum. Vậy đó là gì?
Ngắn gọn dễ hiểu thì đó là bộ đề cương hướng dẫn các trường xây dựng giáo án riêng phù hợp cho trường của mình. Mỗi trường sẽ tự xây dựng giáo trình riêng của mình, khi nhập học, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh mua giáo trình phù hợp.
Mục đích chính của curriculum này gói gọi trong 1 câu:
"Để đào tạo ra một người tự tin, hội nhập, năng động và có khả năng tự đào tạo suốt đời” (confident, connected, actively involved, lifelong learners).
Curriculum này giúp cho học sinh xây dựng và hoàn thiện 5 kỹ năng sau:
- Có khả năng suy nghĩ độc lập;
- Có khả năng sử dụng ngôn ngữ thành thạo (nói, đọc, viết);
- Có khả năng quản lý bản thân;
- Có khả năng xây dựng mối quan hệ với cộng đồng;
- Có khả năng đóng góp cho cộng đồng.
Có thể nói đó là mục tiêu của nền giáo dục New Zealand. Bên này chẳng ai nói đến "triết lý" giáo dục theo nghị quyết hay theo chỉ đạo gì cả, cũng không có những phát biểu mang tính sáo rỗng về ngành giáo dục, cũng như không có ngày nhà giáo. Nhưng nhìn vào mục tiêu đào tạo, mới thấy sự nhân văn trong nền giáo dục của New Zealand và học sinh ra trường có chất lượng thế nào.
Học sinh được đào tạo, hướng dẫn và dạy về 5 kỹ năng trên trong suốt quãng đời học sinh của mình thông qua 8 môn học sau (xin giữ nguyên tiếng Anh):
- English;
- The arts;
- Health and physical education;
- Languages;
- Mathematics and statistics;
- Science;
- Social sciences;
- Technology.
Như các bạn đã thấy chỉ có 8 môn thôi nhưng họ đào tạo ra những con người thế nào rồi đấy!
Bên cạnh đó, phụ huynh sẽ nhận được bảng báo cáo thành tích học tập của học sinh ít nhất 2 lần/năm. Nếu có gì thắc mắc thì phụ huynh có thể gặp giáo viên trao đổi thêm.
Lưu ý là nền giáo dục New Zealand chú trọng phát triển kỹ năng hơn là điểm số. Họ không có mở các lò luyện thi, các lớp học thêm để con cái học trước như ở Việt Nam. Cũng không khuyến khích các bậc phụ huynh mua giáo trình cho con học trước khi chương trình chính khoá diễn ra.

3.6 BẰNG TỐT NGHIỆP PHỔ THÔNG
Sau khi tốt nghiệp phổ thông ở New Zealand thì học sinh sẽ được nhận bằng cấp gì? Câu hỏi này cũng rất quan trọng vì nó sẽ giúp học sinh và bậc phụ huynh xác định được tương lai của con em mình ở bậc Đại Học.
Phần này dành để trình bày sơ lược về 3 hệ chương trình học và bằng cấp tốt nghiệp ở bậc phổ thông hiện có ở của New Zealand để giúp mọi người có thể tự chọn hoặc tư vấn cho con em khi sang đây học phổ thông.
Hy vọng mọi người sẽ có thể hiểu hơn về những hệ chương trình học này và chọn ra cái hợp với mình nhất. Vì nhiều khi các agent họ nói đủ thứ bằng cấp khiến nhiều phụ huynh và các bạn học sinh bị rối mù trong cái ma trận bằng cấp.
Ở New Zeland thì gọi trường trung học phổ thông là Secondary School (vì bậc đại học gọi là Tertiary) nhưng ở đây sẽ gọi chung là trường cấp 3 cho gọn và dễ hiểu.
Chương trình học là cũng là một điểm rất quan trọng trong quá trình chọn trường bởi mỗi chương trình học rất khác nhau có điểm mạnh và yếu riêng. Nhưng chung quy lại thì cả 3 hệ chương trình học đều có thể vào được đại học và được công nhận trên toàn cầu.

NCEA
The National Certificate of Educational Achievement (NCEA) là bằng chứng nhận của toàn bộ các trường cấp 3 ở New Zealand. NCEA được công nhận và sử dụng cho việc tuyển sinh bởi tất cả các trường đại học và Polytechnics ở cả New Zealand và các nước khác trên thế giới.
Tất cả các trường cấp 3 ở New Zealand đều dạy chương trình NCEA cho học sinh từ Year 11 đến 13. NCEA có 3 level tương ứng là Level 1, 2 và 3. Cả 3 level này để tương ứng với sức học từng môn của học sinh.
Ví dụ một học sinh đang học level 2 vẫn có thể chọn thêm một môn mới và học lại Level 1 cho môn đó hoặc là nếu học giỏi một môn nào đó thì có thể học thẳng lên Level 3 luôn.
NCEA tính điểm dựa dựa trên credit, hệ thống tính điểm này hơi phức tạp nhưng đại khái là ở mỗi Level thì học sinh sẽ cần 80 credits để đạt chứng nhận. Nhưng ở Level 2 và 3 thì học sinh sẽ được mang 20 credits từ Level trước đó.
Ví dụ như ở Level 2 thì sẽ được mang 20 credits từ Level 1 nên học sinh chỉ cần có 60 credits là sẽ đạt yêu cầu qua môn đó. Cách kiếm credit của NCEA không chỉ là từ bài kiểm tra thông thường mà còn là từ quá trình học xuyên suốt. Mỗi môn sẽ được chia ra làm nhiều standard, cứ đạt standard thì sẽ được credit tương ứng.

Ưu điểm của NCEA:
- Credit được chia đều cho cả năm nên học sinh sẽ phải học xuyên suốt cả năm học chứ không phải đến mùa thi mới học.
- Cho phép học sinh học tương ứng với khả năng của mình.
Khuyết điểm của NCEA:
- Hệ thống tính credit phức tạp của NCEA có thể là trở ngại với học sinh mới vì vấn đề credit.
Ban nào muốn tìm hiểu thêm thì có thể tham khảo website của NCEA

CIE
Song song với NCEA thì một số trường còn dạy cả chương trình CIE (Cambridge International Examinations).
Chương trình Cambridge nổi tiếng toàn thế giới với rất nhiều các kì thi và chứng chỉ. Ở Việt Nam thì mọi người thường biết đến Cambridge với những chứng chỉ tiếng anh như Starter, Flyer, KET, PET, v.v. Nhưng các trường cấp 3 ở New Zealandcòn có 3 loại chứng chỉ nữa là:
- IGCSE cho Year 11.
- AS cho Year 12.
- A level cho Year 13.
CIE có thể nói là chương trình khó nhất trong 3 chương trình học ở New Zealand vì thường là học sinh chỉ học chuyên sâu vào khoảng từ 3 đến 4 môn học với trình độ rất khó, nhất là ở mức độ AS và A level.
Nếu học sinh học có theo kịp chương trình này thì có lợi thế là lên năm đầu tiên của Đại Học sẽ thấy dễ dàng hơn một tí.
Cách tính điểm của Cambridge cũng rất đơn giản vì học sinh chỉ thi đúng 1 bài kiểm tra vào cuối năm. Điểm qua môn sẽ là A*, A, B, C, D và E. Điểm này được quy đổi ra từ số điểm trong bài thi.
Ưu điểm của CIE:
- Trình độ của chương trình này là rất cao và sẽ chuẩn bị học sinh tốt khi vào đại học.
- Bằng CIE sẽ được công nhận rộng rãi khắp thế giới hơn là bằng NCEA.
Khuyết điểm của CIE:
- Toàn bộ số điểm sẽ dồn vào 1 bài kiểm tra cuối năm nên làm không được là xem như rớt môn.
- Chương trình học hơi nặng.
- Khoảng cách giữa IGCSE và AS là khá xa nên rất nhiều học sinh từ lớp 11 lên 12 bị đuối ở khoảng đầu năm học.
Đây là website của CIE dành cho bạn nào muốn tham khảo thêm.

IB
The International Baccalaureate hay IB là Bằng Tú Tài Thế Giới cũng được công nhận toàn thế giới cầu thuộc tổ chức giáo dục IBO.
Tổ chức giáo dục này cũng tương tự như Cambridge vì họ có những chương trình giáo dục trên toàn thế giới. Cấp 3 ở New Zealand thì sẽ được áp dụng chương trình Diploma Programme.
Để có được bằng tú tài này thì học sinh sinh sẽ phải học 6 môn dưới 3 tiêu chí cốt lõi. 3 tiêu chí đó là kiến thức, một bài essay 4000 từ và tiêu chí cuối cùng là hoạt động ngoại khóa. Tiêu chí cuối cùng sẽ không ảnh hưởng tới điểm cuối cùng nhưng bắt buộc phải có để đạt bằng.
Ưu điểm của IB:
- Học sinh sẽ được phát triển toàn diện về kĩ năng thực tiễn, sáng tạo, tư duy phản biện, văn hóa và kiến thức bao quát.
Khuyết điểm của IB:
- Để có bằng này thì học sinh phải học khá nhiều môn và làm khá nhiều hoạt động. Nhưng đây cũng không phải là điểm yếu cho bạn nào muốn thử mình.
Đây là website của IBDP dành cho bạn nào muốn tham khảo thêm

Trên đây chỉ là những điểm là sơ lược về NCEA, CIE và IB. Mỗi trường sẽ có cách dạy riêng và cách áp dụng những chương trình này riêng nên các bạn phải tìm hiểu ở cả trên website của trường và trên website của những chương trình học này.
Học theo chương trình nào? Đó là sựa lựa chọn của các bậc phụ huynh và hướng tương lai của con cái mình. Nhưng nhìn chung thì NCEA là phổ biến nhất cho dù học Đại Học ở NZ hay nước nào khác.


3.7 KỶ LUẬT Ở NHÀ TRƯỜNG
Các trường học luôn luôn tạo mọi điều kiện để học sinh cảm thấy thoải mái, an toàn và yên tâm khi đến trường.
Ở New Zealand, việc trừng phạt học sinh bằng các biện pháp đánh đòn, roi đều bị nghiêm cấm. Giáo viên tuyệt đối không được đánh roi, bạt tai hay dùng các biện pháp trừng phạt có tác động lên cơ thể học sinh. Thay vào đó họ phạt học sinh bằng cách cho thêm homework về nhà hoặc ở lại trường trễ hơn để làm bài dưới sự giám sát của giáo viên.
Gởi con đi học, các bậc phụ huynh có thể hoàn toàn yên tâm là không có việc con cái của mình bị bạo hành, ngược đãi hay bị trừng phạt nghiêm khắc bằng đòn roi.

II. HỆ THỐNG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC BẬC ĐẠI HỌC
Đầu tiên là các Univerities, New Zealand hiện tại có 8 trường Đại Học công lập là:
- Auckland University (AU)
- Auckland University of Technology (AUT)
- Massey University
- Waikato University
- Victoria University of Wellington
- University of Canterbury (UC)
- Lincoln University
- University of Otago
Ghi chú: Thứ tự của các trường Đại Học dựa trên vị trí địa lý, không phải bảng xếp hạng danh tiếng của từng trường.
Bên cạnh 8 trường Đại học trên, New Zealand còn có một số trường được xem là Non-University (gọi chung là Tetiary Education Organization – TEO). Gồm có:
- Institude of Technology hay Polytech: Tổng cộng cố 18 cơ sở. Các Polytech này có cơ sở vật chất và qui mô lớn cũng không thua kém gì các Universities phía trên, thí dụ có 3 Polytech lớn và nổi tiếng nhất:
+ UNITEC Institute of Technology
+ Wellington Institude of Technology (WELTEC)
+ Institue of Canterubry (ARA)
- Industry Training Organisation: Tổng cộng có 14 cơ sở.
- Wanaga (trường dành cho Maori): 3 trường.
- Private Training Establisments (PTE): Ước tính khoảng hơn 550 cơ sở.
Các TEO này cũng cung cấp các chương trình giảng dạy từ Certificate level 3 đến Master và Doctoral Degree level 10 cho sinh viên bản xứ và cả du học sinh. TEO được nhiều sinh viên lựa chọn vì nó có các ưu điểm sau:
- Học phí thấp hơn các Universities;
- Đầu vào có thể nhẹ nhàng hơn;
- Yêu cầu của các môn học không quá khó;
 Chương trình giảng dạy có tính thực tiễn cao hơn các Universities.
Universities thì trải rộng ra khắp New Zealand, nhưng các PTE thì chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn đông dân, nhất là Auckland.
Ngoài 8 Universities và một số Polytech/Institude of Technology nổi tiếng ra, để chọn được một PTE có chất lượng là một điều không hề dễ dàng. Hiện tại có rất nhiều công ty, cá nhân (đặc biệt là người Trung Quốc và một số Ấn Độ) đứng ra mở trường với mục đích là “bán” visa cho các du học sinh qua New Zealand đi làm chui. Các PTE kiểu này đã và đang bị Immigration kiểm tra rất gắt gao.
Hiện nay, có nhiều công ty môi giới quảng cáo một số PTE rất rầm rộ nào là thuộc loại Category 1, học bổng 80%, giờ học linh hoạt. Có rất nhiều bạn thắc mắc Category 1 là gì? Nếu bạn có cùng thắc mắc thì xin xem phần cách đánh giá các TEO ở chương sau.
Ghi chú: các bạn phân biệt TEO (Tetiary Education Organization) và PTE (Private Training Establishment) nhé. Nếu chưa phân biệt được thì xin đọc phần trên. Ngắn gọn là TEO bao gồm tất cả các tổ chức cung cấp dịch vụ giáo dục (không bao gồm 8 Universities) và PTE là một loại hình tổ chức của TEO.
Đó là tổng quan về hệ thống giáo dục của New Zealand. Chương kế tiếp sẽ dành để trình bày về các phương pháp đánh giá cũng như cách chọn trường.